Thứ Tư, 13 tháng 6, 2018

Ký ức sống động nhất của ‘Bà đầm thép’ Thatcher

 Trong hồi ký của mình, bà Margaret Thatcher cho rằng ký ức về 11 tuần diễn ra cuộc chiến tranh ở quần đảo Falkland là sống động nhất trong 11 năm làm thủ tướng nước Anh.
Theo bà, cuộc chiến giành lại quần đảo này sau khi bị quân đội Argentina xâm chiếm là “hành động bảo vệ danh dự của mình với tư cách một quốc gia, và những nguyên tắc có tầm quan trọng cơ bản đối với cả thế giới”.
Ky uc song dong nhat cua ‘Ba dam thep’ Thatcher hinh anh 1
Margaret Thatcher - Hồi ký bà đầm thép phát hành bản tiếng Việt hồi tháng 4.
Chương về cuộc chiến diễn ra từ cuối tháng 3/1982 đến tháng 6 năm đó trong cuốn Hồi ký bà đầm thép (NXB Thế giới vừa phát hành, bản dịch của Nguyễn Xuân Hồng) được đặt tên trong nguyên bản là Follow the Fleet (Theo dấu hạm đội), tên một bộ phim hài ca nhạc nổi tiếng của Hollywood năm 1936.
Bởi vì trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến, là Thủ tướng, là người đứng đầu “nội các chiến tranh”, bà luôn phải dõi theo dấu vết hạm đội đặc nhiệm được cử đi nửa vòng trái đất đến tận Nam Mỹ xa xôi.
Hạm đội mà nữ Thủ tướng luôn phải theo dấu, hồi hộp chờ từng tin điện báo về không chỉ có 2 tàu sân bay, 11 tàu khu trục và tàu chiến, ba tàu ngầm, tàu tấn công đổ bộ cùng 5.000 binh lính mà còn là 100 tàu dân sự được “trưng thu” chở đồ hậu cần, tiếp tế, với hơn 25.000 người nữa.
“Khi tôi trở thành Thủ tướng, tôi không bao giờ nghĩ mình phải ra lệnh cho binh sĩ Anh tham chiến và tôi nghĩ cả đời mình chưa khi nào phải sống trong căng thẳng như trong quãng thời gian đó”, bà hồi tưởng lại.
Bảo vệ quyết định điều động quân đội của mình, bà Thatcher trích dẫn câu nói của Hoàng đế Phổ Federick: “Ngoại giao thiếu vũ trang giống như âm nhạc không có nhạc cụ”.
Bà kể lại cảm giác nặng trĩu khi nhận được tin hai chiếc trực thăng đầu tiên chở binh lính Anh đổ bộ xuống sông băng Fortuna ở South Georgia để mở màn cho chiến dịch bị rơi do thời tiết xấu.
Tiếp theo đó, là cảm giác sung sướng vỡ òa khi người thư ký chạy lại đưa cho bức điện tín cho biết chiếc trực thăng thứ ba đã hạ cánh an toàn và đón được toàn bộ toán lính đặc nhiệm cùng phi hành đoàn của hai chiếc máy bay trước.
Thủ tướng Thatcher là người trực tiếp viết những lá thư chia buồn đối gửi tới gia đình các binh sĩ Anh thiệt mạng trong cuộc chiến.
Qua hồi ký của bà, bên cạnh những hành động của chính phủ và quân đội Anh, ta có thể thấy được phản ứng của các nước trên thế giới quanh sự kiện này.
Điển hình thái độ của Liên Xô là ủng hộ Argentina, Nhật Bản có thái độ nước đôi, trong khi nhiều nước Nam Mỹ đều lên tiếng chỉ trích Anh, chỉ trừ Chile lại đứng về phía Anh do họ có những tranh chấp từ lâu dài với Argentina.
Ky uc song dong nhat cua ‘Ba dam thep’ Thatcher hinh anh 2
Thatcher là một chính khách quan trọng trong lịch sử đương đại Anh, nhiều người ngưỡng mộ bà nhưng cũng không ít người chống đối.
Mối quan hệ thân thiết giữa bà Thatcher và Tổng thống Mỹ Reagan đã giúp Anh nhận được sự ủng hộ của Mỹ. “Dù những tuyên bố chính thức của Mỹ có lúc rất khó chịu, nhưng họ đã có những giúp đỡ vô giá như 150.000 thước vuông thảm chiếu để tạo ra đường băng tạm thời.
Thậm chí Caspar Weiberger (Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ) còn đề nghị gửi tàu sân bay USS Eisenhower tới làm đường băng lưu động cho chúng tôi”, bà hồi tưởng và cũng đánh giá “đề nghị này có tính động viên hơn là thực tiễn”.
Cuối cùng, bà viết về việc đón nhận tin chiến thắng. “Kết quả đến nhanh khiến tất cả chúng tôi ngạc nhiên”. Sau khi tới Hạ viện để thông báo về tin chiến thắng vào 10h tối 14/6/1982, bà viết: “Khi tôi về ngủ tối muộn hôm đó, tôi nhận ra gánh nặng vừa được nhấc ra khỏi vai tôi mới lớn làm sao”.
Uy tín của bà tăng mạnh sau cuộc chiến Falkland, người ta gọi bà bằng biệt danh “Bà đầm thép”. Với những thành tựu trong 11 năm giữ chức Thủ tướng Anh, nguyên Phó Thủ tướng Anh Nick Clegg đã đánh giá “Margaret Thatcher là người đã định hình nền chính trị hiện đại của nước Anh”.
Cuốn Margaret Thatcher - Hồi ký bà đầm thép là phiên bản tổng hợp và rút gọn hai cuốn hồi ký của bà: The Downing Street Years (Những năm tháng tại Phố Downing), kể về thời gian bà làm Thủ tướng, là cuốn đầu tiên, ra mắt năm 1993, và The Path to Power (Đường tới quyền lực) kể về thời trẻ và giai đoạn đầu trong sự nghiệp chính trị của bà, được xuất bản hai năm sau đó.
Cuốn sách đi qua tất cả những thời khắc, sự kiện, vấn đề diễn ra trong cuộc đời bà Thatcher cùng những suy nghĩ, luận cứ quan trọng của bà về các vấn đề này. 

Chuyện bên bếp lửa - truyện cổ tích người Mông

 Với mong muốn gìn giữ nét đẹp văn hóa người Mông, nhóm các bạn trẻ cùng thực hiện cuốn sách giới thiệu 3 thể loại truyện dân gian phổ biến với hình thức trẻ trung, hiện đại.
Thực hiện mong muốn tái dựng và duy trì không gian văn hóa truyền thống quây quần kể chuyện bên bếp lửa của người Mông, buổi ra mắt tuyển tập truyện cổ tích của người Mông Chuyện bên bếp lửa - Qub xwm Hmoob cuab xeem và giao lưu cùng nhóm biên soạn đã diễn ra tại Hà Nội cuối tuần qua.
Chuyen ben bep lua - truyen co tich nguoi Mong hinh anh 1
Bìa sách Chuyện bên bếp lửa – Qub xwm Hmoob cuab xeem
Dự án được thực hiện bởi Nhóm hành động vì sự phát triển của cộng đồng người Mông (ADH), Nhóm Tiên phong vì tiếng nói người dân tộc thiểu số, Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái (VTIK) dưới sự tài trợ và hỗ trợ bởi tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam, Trung tâm Nâng cao năng lực cộng đồng (CECEM), Tổ chức ChildFun, Trung tâm vì sự phát triển bền vững miền núi (CSĐM), Liên mình Châu Âu (EU), Sứ quán Ireland, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) và tổ chức Plan Quốc tế.
 Nhóm biên soạn gồm các thành viên Khang A Tủa, Mùa Thị Mua phụ trách sưu tầm và dịch truyện, họa sĩ Nguyễn Thế Linh vẽ minh họa. Cuốn sách giới thiệu 3 tác phẩm kinh điển đại diện cho 3 thể loại truyện dân gian phổ biến: truyện về thiên nhiên và con người, truyện về lịch sử người Mông và nhân loại, truyện lý giải các thực hành văn hóa của người Mông.
Nhóm biên soạn còn xây dựng hệ thống chú thích, phụ lục rất chi tiết nhằm lý giải, phân tích kỹ hơn về những câu truyện và văn bản chữ Mông cho bạn đọc tham khảo.
Chuyen ben bep lua - truyen co tich nguoi Mong hinh anh 2
Nhóm biên soạn gồm các thành viên Khang A Tủa, Mùa Thị Mua và Nguyễn Thế Linh.
Thành viên Khang A Tủa chia sẻ từ những ngày đầu, khi mới có ý tưởng sưu tầm lại những câu chuyện cổ tích để lưu giữ truyền thống, tiếng nói và chữ viết Mông đến khi cuốn sách thành hình là một hành trình dài nhiều khó khăn.
Bằng cách liên lạc với nhóm bạn trẻ người Mông ở Hà Nội, cùng đọc tài liệu, nhớ lại những câu chuyện kể được nghe từ cha mình - vốn là người giữ vai trò thầy mai mối trong cộng đồng Mông ở quê hương, A Tủa dần xây dựng được nhóm dự án và hoàn thiện phương pháp thu thập tư liệu.
Trong quá trình vừa làm vừa sửa đó, anh đã thu hút được sự quan tâm và tham gia của các thành viên chủ chốt khác là Mua và  Linh.

Gìn giữ bản sắc người Mông

Trên những hành trình về các bản làng người Mông nằm rải rác khắp núi rừng miền Bắc, nhóm cũng xác định được những thách thức mình cần phải vượt qua. Đầu tiên là thực trạng biến mất dần của không gian văn hóa kể chuyện bên bếp lửa khi truyền hình và điện ảnh được phổ cập đến các bản làng và nhanh chóng thu hút sự chú ý của người dân.
Bếp lửa vẫn là nơi diễn ra mọi hoạt động thường nhật của người Mông, nhưng nếu với những thanh niên thuộc thế hệ 9X trở về trước, ký ức của những tối quây quần bên gia đình luôn gợi đến những câu truyện cổ tích được kể bởi người lớn tuổi trong nhà thì hiện nay với các em nhỏ, câu chuyện chủ yếu xoay quanh tình hình đi học của các em, tình hình kinh tế ở nhà.
Trẻ em người Mông vẫn luôn hào hứng với những truyền thống của cha ông nhưng không còn nhiều dịp để nghe và những câu chuyện cũng theo đó mà dần bị lãng quên bởi chính những người cha, người mẹ, ông bà trong lúc bận rộn đuổi theo nhịp sống hiện đại.
Chuyen ben bep lua - truyen co tich nguoi Mong hinh anh 3
Tranh vẽ minh họa truyện “Sự ra đời các dòng họ người Mông” trong sách.
Khó khăn thứ hai là sự thiếu nhất quán trong phương ngữ, chữ viết khi dịch giữa tiếng Mông và tiếng Kinh. Mặt khác chữ viết Mông cũng đang bị mai một. Trải qua bốn lần tan rã, tái định cư từ thuở xa xưa, nội bộ trong cộng đồng người Mông cũng xuất hiện nhiều đứt gãy trong niềm tin và tín ngưỡng.
Người Mông hiện nay chia thành nhiều nhánh văn hóa với những hệ tư tưởng khác nhau. Điều này khiến ban biên soạn lúng túng trong việc chọn lựa một dị bản truyện được nhiều người Mông cùng đồng tình để đưa vào sách hay xác định các nét bản sắc quan trọng của người Mông cần được giữ gìn.
Trên hành trình của mình, nhóm biên soạn của A Tủa nhận được nhiều tình cảm từ đồng bào Mông ở khắp nơi trên cả nước, được mời tham dự nhiều buổi tối sinh hoạt bên bếp lửa nghe chuyện cổ, phân tích văn hóa từ những người cao tuổi hay có khi là thành viên nhóm chủ động tổ chức các buổi kể chuyện cho các em nhỏ và nhận được sự góp ý giúp hoàn thiện câu chuyện từ các em.

'Những gặp gỡ không thể có' trong văn chương Việt

Tập truyện ngắn của nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng không chỉ có nội dung khó tìm thấy trong đời sống, mà thể loại văn học fantasy cũng ít được các nhà văn Việt lựa chọn.
Lâu nay, cái tên Trần Tiễn Cao Đăng gắn liền với địa hạt dịch thuật. Ông tạo lập được danh tiếng trên văn đàn trong vai trò một dịch giả.
Nhiều tác phẩm của Trần Tiễn Cao Đăng chuyển ngữ được nhiều người yêu thích, đều là những tác phẩm văn chương xuất sắc, hoặc các công trình nghiên cứu giá trị cao như: Biên niên ký chim vặn dây cót (Harumi Murakami), Nếu một đêm đông có người lữ khách (Italo Calvino), Súng, Vi trùng và Thép (Jared Diamond), Thế giới như tôi thấy (Albert Einstein), Từ điển Khazar (Milorad Pavic)…
Để dịch những tác phẩm này, dịch giả không chỉ có khả năng ngôn ngữ, mà còn cần sự hiểu biết về văn hóa, tôn giáo, lịch sử, sự nghiêm túc và cẩn trọng trong nghề.
'Nhung gap go khong the co' trong van chuong Viet hinh anh 1
Dịch giả, nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng.
Trần Tiễn Cao Đăng nói việc dịch văn chương đóng vai trò đánh thức thiên hướng viết lách từ lâu ngủ yên trong ông. Năm 2016, ông cho ra mắt tiểu thuyết đầu tay Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian.
Cho tới mùa hè này, tập truyện ngắn Những gặp gỡ không thể có của Trần Tiễn Cao Đăng phát hành, cũng với thể loại fantasy, cho thấy quan điểm thẩm mỹ riêng biệt của nhà văn.
Bốn truyện ngắn trong Những gặp gỡ không thể có của Trần Tiễn Cao Đăng là bốn câu chuyện về những cuộc gặp nằm giữa lằn ranh thật và ảo, giữa hiện hữu và giấc mơ.
Đẹp mà lạ lùng, nên thơ nhưng cũng không kém phần gai góc, Trần Tiễn Cao Đăng đưa người đọc bước vào thế giới siêu thực mà ông vẽ nên, nơi mà ý chí của con người được giải phóng và không còn bị ngăn trở bởi bất cứ rào cản nào nữa.
'Nhung gap go khong the co' trong van chuong Viet hinh anh 2
Tập truyện ngắn Những gặp gỡ không thể có mới ra mắt bạn đọc.
Những gặp gỡ không thể có của Trần Tiễn Cao Đăng đã dệt nên bức tranh về sự sống và cái chết, về tình yêu và sự cách chia, về mê đắm và dục vọng, về tình người, tình đồng đội và cả sự lạc lõng của mỗi bản thể trong cuộc đời.
Với kết cấu, thể loại, cách kể lạ, nội dung gần như rất khó tìm thấy ở đời sống Việt Nam, các truyện ngắn phi hiện thực của Những gặp gỡ không thể cóđược thể hiện một cách ngoạn mục.
Có lẽ thời gian tiếp cận với văn học tinh hoa đã mở cho Trần Tiễn Cao Đăng con đường đi riêng. Truyện do ông sáng tác không chạy theo các trào lưu văn học hiện thời, không đánh vào thị hiếu của độc giả, và cũng không đi theo bất kỳ lối mòn nào trước đó.
Với Cao Đăng,“viết là để tự tiến hóa, để tự định nghĩa mình, viết là để có tiếng nói của riêng tôi về cái đẹp và nỗi đau - của những thực thể, hữu sinh hay vô sinh, không tự nói hoặc không có cơ hội nói về cái đẹp và nỗi đau của mình".
Theo quan điểm của ông, nhà văn phải bay bổng trên các cấp độ hiện thực để tái hiện một thế giới là cái mình muốn.